VIỆN ĐỊA LÝ TÀI NGUYÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Xói lở ở Đồng bằng sông Cửu Long: nguyên nhân cơ bản và giải pháp tổng thể (*)

27-07-2018

Xói lở ở đồng bằng sông Cửu Long: Đâu là nguyên nhân cơ bản?

Những năm qua, diễn biến xói lở bờ sông ngày càng nghiêm trọng ở đồng bằng sông Cửu Long đã và đang ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, cũng như phát triển kinh tế - xã hội bền vững của khu vực này.

Do đó, cần có cách tiếp cận tổng thể trong giải quyết sự thay đổi lòng dẫn sông nói chung và xói lở bờ sông nói riêng, để giúp người dân trong khu vực thích ứng với loại hình thiên tai này, hạn chế tối đa những công trình đầu tư rất lớn nhưng hiệu quả đạt thấp.

 

Chú thích ảnh

Phía Đông của Đất Mũi (Cà Mau) đang có sự xâm lấn ngày càng mạnh mẽ của biển vào đất liền.

Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN

 

Phương pháp phân tích tổng hợp (địa lý tổng hợp) được các nhà địa lý học trên thế giới và Việt Nam áp dụng, giúp cho việc nghiên cứu nhìn nhận một cách toàn diện vấn đề xói lở bờ sông. Bao gồm những yếu tố tự nhiên về địa chất, địa mạo, thủy văn, đến các hoạt động nhân sinh như xây dựng các công trình thủy điện, khai thác cát, sỏi, xây dựng cơ sở hạ tầng.

Mặt khác, phải xem xét sự thay đổi phạm vi, quy mô xói lở theo thời gian để thấy tác nhân chính gây nên diễn biến lòng dẫn sông, xói lở bờ sông vùng đồng bằng sông Cửu Long trong những năm gần đây.

 

Xói lở sẽ dữ dội hơn

 

Nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học Viện Địa lý Tài nguyên TP Hồ Chí Minh về “Định hướng giải quyết vấn đề xói lở bờ sông vùng đồng bằng sông Cửu Long theo tiếp cận địa lý tổng hợp” đã nêu rõ: Trước những năm 2010, xói lở bờ sông ở đồng bằng sông Cửu Long xảy ra khá phổ biến. Tuy vậy, xu thế chung là ổn định, không gia tăng quá mức.

Cùng với quá trình xói lở, việc bồi lắng bờ sông cũng xảy ra khá nhiều nơi như lạch trái sông Hậu qua thành phố Long Xuyên, cửa Định An, cửa Ba Lai, đuôi các cù lao…

Nhưng sau năm 2010, tình hình xói lở bờ sông gia tăng cả về phạm vi lẫn cường độ. Hiện Đồng bằng sông Cửu Long có 380 điểm sạt lở với chiều dài 633 km. Trong đó có 18 khu vực có tốc độ xói lở lớn hơn 10 m/năm; 37 khu vực xói lở từ 5 - 10 m/năm và 325 khu vực có tốc độ xói lở dưới 5 m/năm.

Những tỉnh có số lượng các điểm sạt lở lớn nằm ở vùng thượng châu thổ như Đồng Tháp 42 điểm với 65,6 km đường bờ sông bị xói lở; An Giang 49 điểm với 71,5 km, đến những tỉnh ven biển tiêu biểu như Cà Mau 48 điểm với 109 km.

Các khu vực diễn biến lòng dẫn phức tạp cụ thể là đoạn sông Tiền chảy qua tỉnh Đồng Tháp; đoạn sông Hậu chảy qua thành phố Long Xuyên; bờ sông Vàm Nao huyện Chợ Mới (An Giang); cồn Tân Lộc (Cần Thơ); bờ sông Cổ Chiên huyện Càng Long (Trà Vinh); kênh xáng Mái Dầm huyện Châu Thành (Hậu Giang)…

Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu, phân tích, lý giải các nguyên nhân gây ra tình trạng xói lở bờ sông ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đó là động lực dòng chảy lớn, địa chất lòng sông, kênh mềm yếu; biến đổi khí hậu làm thay dòng chảy; nhóm hoạt động phát triển như xây dựng hồ chứa, khai thác cát, sỏi, phát triển dân số và cơ sở hạ tầng, đê bao khép kín…

Nhưng trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng về sự diễn biến bất thường xói lở bờ sông 25 năm qua tại khu vực này, các nhà khoa học Viện Địa lý Tài nguyên TP Hồ Chí Minh khẳng định: Hai nguyên nhân cơ bản làm quá trình xói lở bờ sông ở đồng bằng sông Cửu Long diễn ra mạnh mẽ, phức tạp là do tải lượng phù sa mịn và lượng cát, sỏi bị mất đi.

Toàn bộ hệ thống sông Mê Kông có khoảng 500 hố sâu và thay đổi theo mùa. Vào đầu mùa lũ (tháng 7 - 8) thì cát di chuyển vào lấp khoảng 20 - 30%  chiều sâu của mỗi hố, đến tháng 9 - 10 trở đi dòng sông tự nạo vét lấy lượng cát này ra khỏi hố và vận chuyển xuống hạ lưu.

Nếu trên thượng nguồn sông, cát bị các thủy điện chặn lại hoặc do khai thác cát quá mức sẽ gây mất cân bằng, các hố sâu có thể mở rộng, dịch chuyển và lấn sâu vào chân bờ sông, tạo thành “hàm ếch” gây sạt lở phía trên.

Nếu một bên bờ nào đó bờ sông bị lấn nhân tạo thì hố sâu sẽ dịch chuyển sang bờ đối diện. Đây cũng chính là nguyên nhân gây xói lở nghiêm trọng ở xã Mỹ Hội Đông, tỉnh An Giang vào ngày 22/4/2017.

Theo số liệu khảo sát của Ủy ban sông Mê Kông quốc tế (MRC), tải lượng phù sa mịn của sông Mê Kông năm 1992  từ 160 triệu tấn, đến năm 2014 còn 85 triệu tấn, giảm  khoảng 50%. Số liệu này chưa tính đến cát, sỏi di chuyển ở đáy sông.

Dự báo khi 11 đập thủy điện trên sông này hoàn thành, tải lượng phù sa mịn chỉ còn lại 42 triệu tấn cộng với 100% lượng cát, sỏi di chuyển ở đáy sông bị các đập giữ lại. Khi đó xói lở bờ sông ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ dữ dội hơn nữa với hậu quả khó đo đếm được.

 

Các giải pháp còn manh mún

 

Chú thích ảnh

Tình hình sạt lở bờ sông, kênh rạch, bờ biển đe dọa trực tiếp đến an toàn của nhiều khu dân cư, công trình hạ tầng ven sông, ven biển. Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN

 

Trước tình trạng xói lở bờ sông tại đồng bằng sông Cửu Long không ngừng gia tăng, nhiều giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại đã được triển khai thực hiện, nhất là những giải pháp công trình.

Ước tính cho đến nay, các tỉnh, thành phố nơi đây đã đầu tư gần 8.000 tỷ đồng để xử lý trên 138km bờ sông bị xói lở. Trong đó có những công trình kiên cố như kè sông Tiền khu vực Sa Đéc, kè sông Hậu tỉnh Hậu Giang và một số công trình bán kiên cố, công trình dân gian kể cả trồng cây tạo bãi bồi.

Tuy những giải pháp nêu trên đã phát huy được một số kết quả, góp phần bảo vệ hạ tầng cơ sở. Nhưng nhìn chung các giải pháp còn manh mún, chưa theo quy hoạch chỉnh trị tổng thể và chưa có cơ quan có thẩm quyền thống nhất phê duyệt, các công trình kiên cố cũng không được duy tu bảo dưỡng định kỳ; đối với công trình bán kiến cố, thô sơ còn mang tính tự phát.

Những giải pháp phi công trình không được chú trọng, các số liệu đo đạc, theo dõi diễn biến lòng dẫn sông còn thiếu, chưa đủ cơ sở khoa học để ra quyết định lựa chọn giải pháp hữu hiệu.  

Theo nhận xét của Tiến sĩ Lê Xuân Thuyên, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh: Xói lở bờ sông ở đồng bằng sông Cửu Long liên quan đến nhiều yếu tố là thủy văn, địa chất, nhân sinh….

Vì vậy “Phải hiểu thật rõ mới ra được quyết định, bởi dòng sông cũng như một cơ thể sống, ta can thiệp ngày hôm nay tạm ổn, nhưng vài năm sau hay hàng chục năm sau mới thấy hết di chứng”.

 

Xói lở ở đồng bằng sông Cửu Long: Quy hoạch chỉnh trị gắn liền quy hoạch tổng thể

 

Giải quyết vấn đề xói lở bờ sông ở đồng bằng sông Cửu Long là vấn đề phức tạp, lâu dài. Bởi vậy, những giải pháp phải mang tính hệ thống, tổng hợp, vừa có những biện pháp tác động trực tiếp ở khu vực diễn biến mạnh, vừa có những giải pháp ngăn ngừa, thích nghi với hiện tượng xói lở bờ sông.

 

Trong đó phải chú trọng mục tiêu thích ứng, do phòng chống, ngăn ngừa xói lở trên toàn bộ hệ thống sông nơi đây là không khả thi, vì đó là quy luật tự nhiên của dòng sông và những hệ quả của khai thác lưu vực.

 

Chú thích ảnh

Bờ biển các xã Bình Giang, Thổ Sơn ven biển Tây, thuộc huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đang bị sạt lở nghiêm trọng với tốc độ diễn ra ngày càng nhanh và mạnh mẽ. Nhiều héc ta rừng phòng hộ đã bị sóng biển đánh bật gốc. Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN

 

Thực hiện ngay những giải pháp cấp bách

 

Nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học Viện Địa lý Tài nguyên TP Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, nếu làm tốt công tác cảnh báo và kiên quyết di dời người dân ra khỏi vùng có nguy cơ sạt lở cao, chắc chắn sẽ tránh được những thiệt hại to lớn về người và tài sản. Đơn cử như vụ sạt lở bờ sông nghiêm trọng tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang ngày 22/4/2017, làm 108 hộ dân buộc phải di dời khẩn cấp, thiệt hại khoảng 90 tỷ đồng.

Ngay từ bây giờ, các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long cần nhanh chóng tổ chức điều tra, khảo sát và đánh giá hiện trạng xói lở để cảnh báo hiệu quả hơn. Thông thường trước khi các vụ sạt lở xảy ra, sẽ có những dấu hiệu báo trước như hiện tượng nứt đất, lở đất ven sông theo lối nhỏ lẻ…Vì thế, khi phát hiện có các dấu hiệu này thì kịp thời di chuyển người và tài sản ra khỏi vùng nguy hiểm.

Mặt khác, cần tiến hành đo đạc những khu vực tồn tại hố sâu. Đây là những khu vực tiềm ẩn nguy cơ xói lở rất cao trong bối cảnh thiếu hụt phù sa như hiện nay. Các hố sâu thường xuất hiện tại các vị trí như ở nơi đoạn sông cong, nước đạp vào bờ phía lõm tạo hố sâu; bên dưới nơi hợp lưu của 2 dòng; nơi dòng chảy bị cù lao giữa sông tách ra làm 2 và hợp lại phía bên dưới; nơi dòng sông bị thắt nút cổ chai ở 1 bên hoặc 2 bên.

Ngoài việc di dời dân cư ra khỏi các khu vực tiềm ẩn nguy cơ xói lở bờ sông, chính quyền địa phương nên tăng cường công tác tuyên truyền để người dân và cộng đồng hạn chế những tác động bất lợi đến dòng chảy, như xây dựng các công trình trên sông và ven sông, nuôi cá bè làm thu hẹp dòng chảy, khai thác cát, sỏi…Đồng thời mở rộng mô hình “tổ dân cư tự quản dòng sông” được các hộ dân ở Hồng Ngự, Thanh Bình của tỉnh Đồng Tháp, nhằm ngăn chặn nạn “cát tặc”.

Các địa phương có chung dòng sông cần thống nhất trong việc quản lý khai thác và sử dụng dòng sông, nhất là khai thác tài nguyên nước, cát, sỏi và bố trí cơ sở hạ tầng ven sông. Trước mắt là tập trung quản lý chặt chẽ việc khai thác cát sông, sử dụng hành lang ven sông, ven rạch, kiên quyết xử lý di dời đối với các trường hợp lấn sông, kênh rạch, hành lang tiêu thoát nước…để trả dòng sông về trạng thái tự nhiên.

 

Những giải pháp căn cơ lâu dài

 

Chú thích ảnh

Những đứa trẻ ở xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vẫn hằng ngày vui chơi tại khu vực 14 căn nhà bị sạt lở xuống sông Hậu một năm trước, mặc cho những cảnh báo đây là khu vực sạt lở nguy hiểm. Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN

 

Từ kết quả nghiên cứu “Định hướng giải quyết vấn đề xói lở bờ sông vùng đồng bằng sông Cửu Long theo tiếp cận địa lý tổng hợp”, nhóm các nhà khoa học Viện Địa lý Tài nguyên TP Hồ Chí Minh đề xuất: Toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần có một bản quy hoạch chỉnh trị sông tổng thể, đặc biệt là các địa phương có chung dòng sông Tiền, sông Hậu. Vì chỉ có quy hoạch tổng thể mới xác định đúng những khu vực cần ưu tiên bảo vệ, những khu vực dành không gian cho dòng sông.

Mặt khác, quy hoạch tổng thể sẽ tránh được tình trạng “kè nơi này sạt lở nơi khác” do sự manh mún trong các công trình bảo vệ bờ sông của các địa phương. Trong công tác chỉnh trị sông, rạch phải gắn liền với quy hoạch sử dụng tài nguyên nước sông, cát, nước ngầm, cũng như quy hoạch lãnh thổ (bố trí dân cư, đô thị…). Với phương châm ưu tiên cho giải pháp phi công trình, chỉ xây công trình ở những nơi thật sự cần thiết bởi bất cứ công trình nào cũng có thời hạn nhất định và chi phí cho duy tu, sửa chữa rất cao.

Bên cạnh đó, trong quy hoạch chỉnh trị dòng sông cần có sự tham gia của nhiều bên (chính quyền, người dân và nhà khoa học). Trong đó các nhà khoa học phải là những chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, để hiểu đúng tầm quan trọng, ý nghĩa của động lực và biến thiên của dòng chảy, địa chất, nhằm đánh giá một cách tổng thể, xác đáng quá trình phát sinh, phát triển và trầm tích của dòng sông, dẫn đến xói lở bờ sông trong mối tương quan với vấn đề khác.

Việc xây dựng các đập thủy điện trên dòng chính và dòng nhánh sông Mê Kông là rất khó đảo ngược. Do đó, cần phải tăng cường vai trò của Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam trong Ủy hội sông Mê Kông quốc tế (MRC) và Hợp tác Mê Kông - Lan Thương để có thông tin cần thiết, hạn chế tối đa đến những tác động bất lợi.

Việt Nam cần kiên trì xây dựng một cơ chế sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Kông, trong đó quyền và lợi ích của mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cả lưu vực sông. Cơ chế này cần được quy định bằng một điều ước quốc tế.

Trước mắt nên có quy định về việc chia sẻ các số liệu thủy văn, cơ chế vận hành của đập thủy điện giữa các nước trong lưu vực, coi đây là một yêu cầu mang tính bắt buộc để quản lý tốt nguồn nước sông Mê Kông và các rủi ro từ biến đổi khí hậu.

 

Biên tập: T. P. H. Nguồn: Văn Hào (TTXVN), https://baotintuc.vn

(*): Tiêu đề do người biên tập đặt